I. Thông báo thời hạn nộp tờ khai thuế trong kỳ kê khai Tháng 9/2020 và Quý III/2020

II. Gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô lắp ráp trong nước

III. Rượu, thuốc lá sản xuất trong nước và nhập khẩu sẽ phải dán tem điện tử cho sản phẩm

IV. Giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2020

V. Ngành thuế tăng cường triển khai các giải pháp phát hiện, xử lý vi phạm về quản lý sử dụng hóa đơn

VI. Ưu đãi thuế đối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia

VII. Kể từ 15/11: Thuốc lá các loại và rượu whisky không được gửi kho ngoại quan

VIII. Khôi phục mã số thuế trong trường hợp nào?

I. Thông báo thời hạn nộp tờ khai thuế trong kỳ kê khai Tháng 9/2020 và Quý III/2020

Cafe Kế Toán xin thông báo thời hạn nộp hồ sơ khai thuế như sau:

Hồ sơ khai thuế của kỳ kê khai Tháng 09/2020: hết hạn nộp vào thứ Ba ngày 20/10/2020.
Hồ sơ khai thuế của kỳ kê khai Quý III/2020: hết hạn nộp vào thứ Sáu ngày 30/10/2020.
Cafe Kế Toán lưu ý Quý khách hàng nên kê khai, nộp tờ khai sớm trước thời gian hết hạn ít nhất từ 1 đến 2 ngày để tránh việc quá tải, không gửi được tờ khai.

Trong quá trình kê khai, nếu gặp vấn đề cần hỗ trợ, Quý Khách hàng vui lòng thực hiện theo 1 trong 4 cách dưới đây:

Cách 1 (cách nhanh nhất để được hỗ trợ hiệu quả): Chat trực tiếp tại link https://m.me/Cafe Kế ToánCA hoặc https://zalo.me/4458938702350836836.
Cách 2: Gửi mail tới Trung tâm Chăm sóc khách hàng Cafe Kế Toán CA qua địa chỉ Cafe Kế ToánCA@Cafe Kế Toán.com với nội dung mà Bạn cần hỗ trợ, Cafe Kế Toán sẽ phản hồi lại Bạn trong thời gian sớm nhất.
Cách 3: Liên hệ tổng đài 1900 1854.
Cách 4: Xử lý vấn đề đang gặp phải theo các bước đơn giản trong bài hướng dẫn tại https://noptokhai.vn/tvan/huong-dan hoặc tìm kiếm thông tin hướng dẫn về nghiệp vụ, cách sử dụng phần mềm tại https://Hotro.Cafe Kế Toán.com.
Về mục lục

II. Gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô lắp ráp trong nước

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 109/2020/NĐ-CP gia hạn thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước. Cụ thể, gia hạn thời hạn nộp thuế đối với số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp phát sinh của kỳ tính thuế tháng 3, tháng 4, tháng 5, tháng 6, tháng 7, tháng 8, tháng 9 và tháng 10/2020 với ô tô sản xuất hoặc lắp ráp trong nước.

Thời gian gia hạn kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, cụ thể như sau:

Thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp phát sinh của kỳ tính thuế tháng 3/2020 chậm nhất là ngày 20/9/2020.
Thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp phát sinh của kỳ tính thuế tháng 4/2020 chậm nhất là ngày 20/10/2020.
Thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp phát sinh của kỳ tính thuế tháng 5/2020 chậm nhất là ngày 20/11/2020.
Thời hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp phát sinh của kỳ tính thuế tháng 6, tháng 7, tháng 8, tháng 9, tháng 10/2020 chậm nhất là ngày 20/12/2020.
Nghị định quy định đối với một số trường hợp. Theo đó, trường hợp người nộp thuế khai bổ sung hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế được gia hạn dẫn đến làm tăng số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp và gửi đến cơ quan thuế trước khi hết thời hạn nộp thuế được gia hạn thì số thuế được gia hạn bao gồm cả số thuế phải nộp tăng thêm do khai bổ sung.

Trường hợp người nộp thuế thuộc đối tượng được gia hạn thực hiện kê khai, nộp Tờ khai thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định của pháp luật hiện hành, nhưng chưa phải nộp số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp phát sinh trên Tờ khai thuế tiêu thụ đặc biệt đã kê khai.

Trường hợp doanh nghiệp có các chi nhánh, đơn vị trực thuộc thực hiện khai thuế tiêu thụ đặc biệt riêng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp của chi nhánh, đơn vị trực thuộc thì các chi nhánh, đơn vị trực thuộc cũng thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt. Trường hợp chi nhánh, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp không có hoạt động sản xuất hoặc lắp ráp ô tô thì chi nhánh, đơn vị trực thuộc không thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt.

Nghị định cũng quy định chi tiết trình tự, thủ tục gia hạn nộp thuế. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/09/2020./.

(Nguồn: Gdt.gov.vn – Mục Tin tức – Tin bài về Thuế – Đăng ngày: 16/09/2020)

Về mục lục

III. Rượu, thuốc lá sản xuất trong nước và nhập khẩu sẽ phải dán tem điện tử cho sản phẩm

Đó là một trong những quy định mới trong dự thảo Thông tư hướng dẫn việc in, phát hành, quản lý và sử dụng tem điện tử của Bộ Tài chính.

Theo dự thảo, các tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu những sản phẩm chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (rượu, thuốc lá) sẽ phải dán tem điện tử cho sản phẩm. Tem điện tử là tem có dấu hiệu nhận biết bằng mắt thường và có chứa đựng các thông tin, dữ liệu điện tử được kích hoạt, tra cứu trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan phục vụ công tác quản lý của doanh nghiệp, người tiêu dùng và cơ quan quản lý nhà nước.

Đối với sản phẩm thuốc lá nhập khẩu và sản xuất tiêu thụ trong nước phải được dán tem theo quy định tại Nghị định số 67/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Mỗi bao thuốc lá được dán 01 con tem. Tem được dán tại vị trí đảm bảo nguyên tắc khi mở bao thuốc lá tem sẽ rách.

Rượu nhập khẩu và rượu sản xuất trong nước phải dán tem theo quy định tại Nghị định số 105/2017/NĐ-CP của Chính phủ. Mỗi chai rượu được dán một con tem. Tem rượu được dán vắt qua nơi rượu có thể được lấy ra trên bao bì chứa sản phẩm rượu (nắp chai, nắp hũ, nắp bình, vòi rượu hoặc vị trí tương tự) đảm bảo khi mở nắp thì tem sẽ rách và không thể sử dụng lại.

Tổng cục Thuế thực hiện in phát hành tem thuốc lá, rượu sản xuất trong nước. Tổng cục Hải quan thực hiện in phát hành tem, rượu thuốc lá nhập khẩu. Việc in, phát hành, quản lý và sử dụng tem điện tử, được thực hiện theo quy định hiện hành về quản lý ấn chỉ thuế. Người nộp thuế hoàn toàn chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng, truyền các dữ liệu thông tin tem điện tử về cơ quan quản lý thuế theo quy định.

Đối với tem điện tử thuốc lá, rượu sản xuất trong nước, Tổng cục Thuế sẽ thông báo phát hành tem điện tử trên trang điện tử của Tổng cục Thuế. Tổ chức cấp tem cho cơ quan thuế các tỉnh, TP có đăng ký nhận tem; xây dựng Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế, phục vụ việc tiếp nhận và tra cứu dữ liệu của tem điện tử thuốc lá, tem điện tử rượu sản xuất để tiêu thụ trong nước theo quy định. Thông báo tem điện tử thuốc lá, rượu không còn giá trị sử dụng do thay đổi chính sách hoặc do mất, cháy, hỏng

Trách nhiệm cơ quan thuế các tỉnh, TP nhận tem từ Tổng cục Thuế và tổ chức bán cho các tổ chức, cá nhân có Giấy phép sản xuất thuốc lá và Giấy phép sản xuất rượu còn hiệu lực.

Đối với thuốc lá, rượu nhập khẩu, Tổng cục Hải quan thông báo phát hành tem điện tử thuốc lá, tem điện tử rượu nhập khẩu trên trang điện tử của Tổng cục Hải quan. Thông báo phát hành phải thể hiện hình thức, nội dung kích thước, giá bán, số lượng tem và đặc điểm của từng mẫu tem điện tử. Căn cứ kế hoạch nhập khẩu hằng năm, chậm nhất là ngày 15 tháng 05 của năm liền trước năm kế hoạch, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng tài khoản được cơ quan hải quan cấp truy cập vào Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan để đăng ký kế hoạch mua tem, gồm các nội dung: loại tem, ký hiệu mẫu tem, số lượng tem cần mua.

Doanh nghiệp, tổ chức cá nhân căn cứ vào số lượng nhập khẩu dự kiến, truy cập Công thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan để đăng ký mua tem. Trong thời gian 01 ngày làm việc, cơ quan hải quan phải gửi thông báo về việc chấp thuận hay không chấp thuận.

Cục Hải quan các tỉnh, thành phố có trách nhiệm tổ chức bán tem cho doanh nghiệp nhập khẩu thuốc lá và tổ chức, cá nhân có Giấy phép phân phối rượu để tự dán tem theo quy định./.

(Nguồn: Gdt.gov.vn – Mục Tin tức – Tin bài về Thuế – Đăng ngày: 28/09/2020)

Về mục lục

IV. Giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2020

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 114/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 116/2020/QH14 của Quốc hội về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác.

Nghị định này áp dụng đối với người nộp thuế TNDN là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (doanh nghiệp) theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 116/2020/QH14, bao gồm: tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã; doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.

Nghị định cũng nêu rõ, giảm 30% số thuế TNDN phải nộp của kỳ tính thuế TNDN năm 2020 đối với trường hợp doanh nghiệp có tổng doanh thu năm 2020 không quá 200 tỷ đồng (bao gồm toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng theo quy định của Luật Thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn thi hành).

Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản trong kỳ tính thuế TNDN năm 2020 hoạt động không đủ 12 tháng thì tổng doanh thu năm 2020 được xác định bằng tổng doanh thu thực tế trong kỳ tính thuế TNDN năm 2020 chia cho số tháng doanh nghiệp thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế TNDN năm 2020 nhân với 12 tháng.

Trường hợp doanh nghiệp dự kiến tổng doanh thu trong kỳ tính thuế TNDN năm 2020 không quá 200 tỷ đồng thì doanh nghiệp xác định tạm nộp hằng quý bằng 70% số thuế TNDN phải nộp của quý.

Kết thúc kỳ tính thuế TNDN năm 2020, trường hợp tổng doanh thu năm 2020 của doanh nghiệp không quá 200 tỷ đồng thì doanh nghiệp thực hiện kê khai giảm thuế TNDN của năm 2020 khi quyết toán thuế TNDN theo quy định.

Về kê khai giảm thuế, Nghị định quy định doanh nghiệp tự xác định số thuế TNDN được giảm khi tạm nộp hàng quý và kê khai thuế TNDN phải nộp trong kỳ tình thuế TNDN năm 2020. Khi lập hồ sơ khai thuế, doanh nghiệp kê khai số thuế TNDN được giảm trên các mẫu tờ khai theo quy định.

Khi thực hiện quyết toán thuế TNDN, trường hợp doanh nghiệp nộp thiếu so với số thuế phải nộp quý thì doanh nghiệp nộp bổ sung số tiền thuế còn thiếu và tính tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trường hợp doanh nghiệp đã nộp thuế nhiều hơn so với số thuế phải nộp của kỳ tính thuế TNDN năm 2020 thì xử lý số tiền thuế nộp thừa theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Qua thanh tra, kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền phát hiện doanh nghiệp không thuộc đối tượng được giảm thuế theo quy định của Nghị định này hoặc số thuế phải nộp của kỳ tính thuế TNDN năm 2020 lớn hơn số thuế đã nộp theo quy định thì doanh nghiệp phải nộp số tiền thuế thiếu, tiền phạt và tiền chậm nộp kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Nghị định có hiệu lực kể từ ngày Nghị quyết số 116/2020/HQ14 có hiệu lực thi hành và áp dụng cho kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020./.

(Nguồn: Gdt.gov.vn – Mục Tin tức – Tin bài về Thuế – Đăng ngày: 29/09/2020)

Về mục lục

V. Ngành thuế tăng cường triển khai các giải pháp phát hiện, xử lý vi phạm về quản lý sử dụng hóa đơn

Tổng cục Thuế vừa có Văn bản số 3928/TCT-TTKT yêu cầu các Cục Thuế tăng cường triển khai các giải pháp ngăn chặn, phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng hóa đơn.

Theo đó trong thời gian vừa qua, Tổng cục Thuế đã triển khai nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng in, phát hành, sử dụng, mua bán hóa đơn bất hợp pháp. Việc triển khai các giải pháp này đã góp phần chống thất thu ngân sách nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế, đồng thời góp phần tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh. Cụ thể năm 2017, ngành thuế đã phát hiện 3.354 doanh nghiệp sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, với 382.876 hóa đơn vi phạm. Cơ quan thuế các cấp đã xử lý truy thu thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là 96.770 triệu đồng. Tương tự năm 2018, đã phát hiện 2.983 doanh nghiệp với 58.812 hóa đơn vi phạm, cơ quan thuế đã xử lý truy thu thuế GTGT và thuế TNDN là 46.321 triệu đồng. Năm 2019, đã phát hiện 1.137 doanh nghiệp, với 54.988 hóa đơn vi phạm, cơ quan thuế đã xử lý truy thu thuế GTGT và thuế TNDN là 51.179 triệu đồng.

Mặc dù đã đạt được những kết quả ban đầu, song những sai phạm về hóa đơn vẫn diễn biến phức tạp. Một số tổ chức, cá nhân đã lợi dụng chính sách thông thoáng của Nhà nước về điều kiện thành lập doanh nghiệp; cơ chế tự khai, tự nộp thuế; cơ chế tự in, phát hành, quản lý sử dụng hóa đơn để thành lập, mua bán, sát nhập doanh nghiệp với mục đích in, phát hành, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để trốn thuế, hoàn thuế, kiếm lời bất chính, gây thất thu ngân sách nhà nước. Để ngăn chặn, phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hóa đơn, Tổng cục Thuế đã yêu cầu cơ quan thuế các cấp tổ chức nhận dạng doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro về in, phát hành, sử dụng, mua bán hóa đơn bất hợp pháp; nắm bắt hành vi, cách thức của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp (NNT) sử dụng, mua bán hóa đơn bất hợp pháp. Thu thập thông tin dữ liệu về NNT nhất là những thông tin giao dịch đáng ngờ từ cơ quan giám sát ngân hàng; thông tin từ cơ quan quản lý nhà nước khác; lập danh sách NNT có rủi ro về in, phát hành, sử dụng, mua bán hóa đơn bất hợp pháp, qua đó rà soát, phân tích dữ liệu đã thu thập về NNT để nhận diện, xác định danh sách NNT có rủi ro về hóa đơn.

Tổng cục Thuế đã yêu cầu cơ quan thuế các cấp tổ chức giám sát chặt chẽ đối với NNT có rủi ro cao về hóa đơn, trong đó phân công bộ phận chức năng theo dõi, kiểm soát chặt chẽ việc in, phát hành, quản lý sử dụng hóa đơn đối với NNT theo chế độ quy định; kiểm tra, rà soát hồ sơ khai thuế của NNT có rủi ro cao về hóa đơn thường xuyên, liên tục (tháng, quý). Kiểm tra, rà soát việc bán hóa đơn lẻ tránh việc lợi dụng sử dụng hóa đơn lẻ để hợp thức hóa đầu vào, hoặc làm chứng từ để thanh toán với ngân sách nhà nước. Xây dựng chuyên đề thanh, kiểm tra đối với các doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế và hóa đơn.

Tổng cục Thuế cũng yêu cầu các bộ phận chức năng của cơ quan thuế thực hiện việc xác minh tình trạng hoạt động của người nộp thuế tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan thuế. Đối với trường hợp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký cần đưa lên Trang thông tin điện tử của ngành thuế và có biện pháp xử lý ngăn chặn hậu quả. Cơ quan thuế các cấp cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an để xác minh nguồn gốc hàng hóa, xác minh người mua, người bán từ khâu đầu đến khâu cuối; phối hợp chặt chẽ, cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu theo đề nghị của cơ quan công an trong quá trình điều tra, xử lý.

Trong thời gian tới, cơ quan thuế sẽ đẩy mạnh truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thư ngỏ để nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận, ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội. Đặc biệt, để hạn chế tối đa việc buôn bán hóa đơn bất hợp pháp, cơ quan thuế các cấp cần nghiên cứu, tập huấn để sẵn sàng cho việc triển khai sử dụng hóa đơn điện tử trên toàn quốc theo Nghị định số 119/2018/NĐ-CP của Chính phủ./.

(Nguồn: Gdt.gov.vn – Mục Tin tức – Tin bài về Thuế – Đăng ngày: 22/09/2020)

Về mục lục

VI. Ưu đãi thuế đối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia

Để tạo môi trường nghiên cứu và phát triển, đầu tư kinh doanh thuận lợi tối đa tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 94/2020/NĐ-CP quy định cơ chế, chính sách ưu đãi đối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia.

Trong đó, có quy định một số cơ chế, chính sách ưu đãi thuế đối với Trung tâm, như:

Trung tâm được miễn thuế hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định, hàng hóa nhập khẩu sử dụng trực tiếp cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, phát triển hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ theo quy định của Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu.

Đối với cơ sở Trung tâm tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc thì được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 30 năm kể từ năm đầu tiên có doanh thu, miễn thuế trong 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp không quá 9 năm tiếp theo kể từ khi có thu nhập chịu thuế; Được miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để sản xuất trong thời hạn 5 năm, kể từ khi bắt đầu sản xuất.

Bốn là, cơ quan thuế xác định người nộp thuế không thuộc trường hợp phải chấm dứt hiệu lực mã số thuế do lỗi của cơ quan thuế.

Tại Công văn số 166/ĐKKD ngày 15/7/2020 của Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An trả lời Cục Thuế Nghệ An về việc cung cấp thông tin doanh nghiệp, Phòng Đăng ký kinh doanh xác nhận, căn cứ vào hồ sơ lưu trữ và kết quả tra cứu trên Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp Quốc gia, Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư Nghệ An không tìm thấy thông tin đơn vị có tên Xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Việt Vinh và chưa thực hiện việc đăng ký thay đổi Xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Việt Vinh trên Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.

Căn cứ quy định và nội dung Công văn số 166/ĐKKD nêu trên, trường hợp Xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Việt Vinh được Cục Thuế Nghệ An xác định đã hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế từ ngày 27/8/2009, đồng thời không có thông tin của doanh nghiệp trên cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, thì không đủ điều kiện khôi phục mã số thuế.

(Nguồn: Tapchitaichinh.vn; Xem chi tiết tại đây)

>> Tham gia ngay các khóa học kế toán ngắn hạn tại Cafe Kế Toán. Cùng xem những khóa học đang được tổ chức: TỔNG HỢP CÁC KHÓA HỌC

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *